@ Tác giả: Gérard de Nerval @ Sylvie - Souvenirs du Valois @ Dịch giả: Bùi Giáng @ Mùi Hương Xuân Sắc @ Chú thích: Đặng Thế Kiệt
Search This Blog
Saturday, December 12, 2015
Chú thích: chương XIII. − Aurélie
(27) dịch thiếu một đoạn: [, ancien Dorante des comédies de Marivaux, longtemps jeune premier de drame, et dont le dernier succès avait été le rôle d'amoureux dans la pièce imitée de Schiller, où mon binocle me l'avait montré si ridé. De près, il paraissait plus jeune, et, resté maigre, il produisait encore de l'effet dans les provinces.]
(29) dịch thiếu một câu: [, − le jeune premier ridé.]
XIII. − Aurélie
XIII. − Aurélie
|
XIII. Aurélie |
A Paris ! −
La voiture met cinq heures. Je n'étais pressé que d'arriver pour le soir.
Vers huit heures, j'étais assis dans ma stalle accoutumée; Aurélie répandit
son inspiration et son charme sur des vers faiblement inspirés de Schiller
(1), que l'on devait à un talent de l'époque. Dans la scène (2) du jardin,
elle devint sublime. Pendant le quatrième acte où elle ne paraissait pas,
j'allai acheter un bouquet chez madame Prévost. J'y insérai une lettre fort
tendre signée : Un inconnu. Je me dis : " Voilà
quelque chose de fixé pour l'avenir ", − et le lendemain j'étais sur la
route d'Allemagne.
|
Paris! − Chiếc xe đi
có tới năm tiếng đồng hồ. Tôi chỉ gấp về là về tới cho kịp chiều nay. Vào khoảng
tám giờ, tôi đã ngồi chững chạc trong căn phòng quen thuộc từ bao. Aurélie reo rắc nguồn tươi vui cảm hứng và vẻ kiều diễm thu
hút của mình trên những câu thơ không tuyệt diệu mấy của Schiller (1). Trong cái xen (2) vườn lá mộng, nàng trở nên
tài tình trác tuyệt, phát tiết hết tinh anh. Lớp bốn, nàng sẽ không hiện ra
sân khấu, trong thời gian đó, tôi chạy đi mua một đóa hoa tại hàng bà Prévost. Tôi bỏ vào trong đó một lá thư âu yếm, ký tên: một người
không quen biết. Tôi tự nhủ: “Đó là
một cái gì yên định, gắn kết cho mai sau”, − và qua ngày mai, tôi lên đường
đi qua nước Đức.
|
Qu'allais-je
y faire ? Essayer de remettre de l'ordre dans mes sentiments. − Si j'écrivais
un roman, jamais je ne pourrais faire accepter l'histoire d'un cœur épris de
deux amours (25) simultanés. Sylvie m'échappait par ma faute; mais la revoir
un jour avait suffi pour relever mon âme : je la plaçais désormais comme une
statue souriante dans le temple de la Sagesse (26). Son regard m'avait arrêté
au bord de l'abîme. − Je repoussais avec plus de force encore l'idée d'aller me
présenter à Aurélie, pour lutter un instant avec tant d'amoureux vulgaires
qui brillaient un instant près d'elle et retombaient brisés. − Nous verrons
quelque jour, me dis-je, si cette femme a un cœur.
|
Tôi qua non nước đó làm chi! Để thử gắng xếp đặt ổn đáng cho những lớp tơ
tình. Nếu tôi viết một cuốn tiểu thuyết, ắt chẳng bao giờ tôi có thể làm độc
giả chấp thuận một chuyện tình của một trái tim đồng thời si mê hai hồng nhan
(25) một lúc. Tôi mất Sylvie là lỗi tại tôi. Nhưng tái ngộ một ngày đã đủ làm cho
tinh thần tôi phấn phát; từ nay, tôi sẽ đặt nàng riêng một cõi, như một bức
tượng với một nụ cười hiền hậu bao dung, trong điện đại Hà Thánh Khiết Hiền
Thanh (26). Cái nhìn của nàng đã cầm giữ tôi lại trước bờ hố thẳm. Tôi càng
xô đuổi mãnh liệt hơn nữa, cái ý tưởng đi tìm hội kiến Aurélie, để mà tranh chấp một phút với bao nhiêu kẻ tầm thường
đang yêu nàng, đã sáng chói một lúc ở bên nàng rồi rụng rơi lả tả. Một ngày
nào, tôi tự nhủ, một ngày nào ta sẽ biết người thiếu nữ nọ, có hay không có,
một trái tim.
|
Un matin, je lus dans un journal qu'Aurélie était malade. Je lui
écrivis des montagnes de Salzbourg (3). La lettre était si empreinte de
mysticisme (4) germanique (5), que je n'en devais pas attendre un grand
succès, mais aussi je ne demandais pas de réponse. Je comptais un peu sur le
hasard (6) et sur − l'inconnu (7).
Des mois se passent. A travers mes courses et mes loisirs,
j'avais entrepris de fixer dans une action poétique les amours du peintre
Colonna (8) pour la belle Laura, que ses parents firent religieuse, et qu'il
aima jusqu'à la mort. Quelque chose dans ce sujet se rapportait à mes
préoccupations constantes (9). Le dernier vers du drame écrit, je ne songeai
qu'à revenir en France.
|
Một buổi sáng, tôi đọc nhật báo thấy nói rằng Aurélie lâm bệnh. Tôi viết thư cho nàng, từ những rặng núi tại Salzbourg (3). Lá thư nhuốm đầy chất thần bí (4) Nhật Nhĩ Man
(5), thì hẳn là tôi không thể mong đợi thành công gì cho lắm, nhưng cũng
không đòi hỏi được hồi âm. Tôi đặt niềm tin nơi rủi may ngẫu nhĩ (6) và nơi
những kỳ ngộ khôn dò (7).
Hàng tháng trôi đi. Qua những bận phiêu dạt ngược xuôi, và những giờ rảnh rỗi, tôi đã định ghi tạc trong một vở kịch thơ những ân tình của nhà hội họa Colonna (8) đối với giai nhân Laura, nàng Laura bị cha mẹ đưa vào con đường tu khổ hạnh, nàng Laura mà họa sĩ yêu cho tới lúc chết. Có gì trong sự đó liên can tới những mối triền miên chuyên niệm của tôi (9). Viết xong câu thơ cuối của vở kịch, tôi chỉ còn nghĩ tới việc quay trở về Pháp. |
Que dire maintenant qui ne soit l'histoire de tant d'autres ?
J'ai passé par tous les cercles de ces lieux d'épreuves qu'on appelle
théâtres. (10) " J'ai mangé du tambour et bu de la cymbale ", comme
dit la phrase dénuée de sens apparent des initiés d'Eleusis. − Elle signifie
sans doute qu'il faut au besoin passer les bornes du non-sens et de
l'absurdité (12): la raison pour moi, c'était de conquérir et de fixer mon
idéal (13).
Aurélie avait accepté le rôle principal dans le drame que je
rapportais d'Allemagne. Je n'oublierai jamais le jour où elle me permit de
lui lire la pièce. Les scènes d'amour étaient préparées à son intention. Je
crois bien que je les dis avec âme, mais surtout avec enthousiasme. Dans la
conversation qui suivit, je me révélai comme l'inconnu des deux lettres. Elle me dit :
" Vous êtes bien fou; mais revenez me voir... Je n'ai jamais pu trouver
quelqu'un qui sût m'aimer. "
|
Còn biết nói chi nữa bây giờ? Nói gì mà không là câu chuyện của bao người?
Tôi đã kinh qua hết thảy mọi vần xoay xuôi ngược trong những miền thử thách
mà thiên hạ gọi là kịch trường (10). “Tôi đã ăn vào trong mình tiếng trống
chiêng, và uống vào trong mình giọng chũm chọe” như lời nói, hầu như không có
nghĩa gì rõ, của những kẻ đã thụ pháp nữ thần Cérès tại Eleusis (11). Câu đó chắc hẳn là có nghĩa rằng: nếu cần, phải vượt
qua biên giới của cái vô nghĩa và lẽ phi lý (12): cái lý đối với tôi, là:
chinh phục và ghi tạc hình bóng lý tưởng của mộng tưởng Lý tôi (13).
Aurélie đã chấp nhận thủ
vai chính trong vở kịch của tôi mang từ nước Đức về. Tôi sẽ không bao giờ
quên cái ngày nàng cho phép tôi đọc vở kịch cho nàng nghe. Những xen ân tình
đều soạn sửa thể theo hồn em đó, thưa em. Tôi tưởng mình đã đọc với hết cả
tâm hồn, và nhất là đọc với niềm say mê phấn chấn. Tiếp sau đó, tôi cho nàng
rõ: cái người không quen biết trong hai lá thư chính là tôi. Nàng bảo: “Anh thật
là điên; nhưng mai kia hãy trở lại thăm tôi nhé… Tôi chả bao giờ gặp được một
kẻ biết yêu tôi.”
|
O femme ! tu cherches l'amour... Et moi, donc ?
Les jours suivants, j'écrivis les lettres les plus
tendres, les plus belles que sans doute elle eût jamais reçues. J'en recevais
d'elle qui étaient pleines de raison (14). Un instant elle fut touchée,
m'appela près d'elle, et m'avoua qu'il lui était difficile de rompre un
attachement plus ancien. − Si c'est bien pour
moi que vous m'aimez, dit-elle,
vous comprendrez que je ne puis être qu'à un seul.
Deux mois plus tard, le reçus une lettre pleine
d'effusion. Je courus chez elle. − Quelqu'un me donna dans l'intervalle un
détail précieux. Le beau jeune homme que j'avais rencontré une nuit au cercle
venait de prendre un engagement dans les spahis (15).
|
Ôi người phụ nữ! Em tìm kiếm tình yêu… Còn tôi, ấy vậy?
Những ngày sau đó, tôi viết những lá thư âu yếm nhất đời, những lá thư đẹp nhất mà bình sinh chắc hẳn nàng đã nhận được, có lẽ. Tôi nhận được những lá hồi âm đầy lý tính (14). Một phen, nàng cảm động, gọi tôi lại gần, và thú thật với tôi rằng khó mà dứt bỏ một niềm luyến ái xưa cũ hơn. "Nếu quả thật vì tôi mà anh yêu tôi", nàng nói, "thì anh sẽ hiểu rằng tôi tôi chỉ có thể là bạn trăm năm của một kẻ duy nhất mà thôi." Hai tháng sau, tôi nhận được một lá thư chan chứa. Tôi chạy bay tới nàng. Trong khoảng thời gian hai tháng đó, có kẻ cho tôi biết một chi tiết quý báu. Chàng trai đẹp đẽ mà tôi đã từng gặp một lần tại câu lạc bộ, chàng đó đã đầu vào kỵ binh tại Algérie (15). |
L'été suivant, il y avait des courses à Chantilly.
La troupe du théâtre où jouait Aurélie donnait là une représentation (16).
Une fois dans le pays, la troupe était pour trois jours aux ordres du
régisseur. − Je m'étais fait l'ami de ce brave homme, ancien Dorante des
comédies de Marivaux, longtemps jeune premier de drame, et dont le dernier
succès avait été le rôle d'amoureux dans la pièce imitée de Schiller, où mon
binocle me l'avait montré si ridé. De près, il paraissait plus jeune, et,
resté maigre, il produisait encore de l'effet dans les provinces. Il avait du
feu (27). J'accompagnais la troupe en qualité de seigneur
poète (17); je persuadai au
régisseur d'aller donner des représentations à Senlis et à Dammartin. Il penchait
d'abord pour Compiègne; mais Aurélie fut de mon avis. Le lendemain, pendant
que l'on allait traiter avec les propriétaires des salles et les autorités,
je louai des chevaux, et nous prîmes la route des étangs de Commelle pour
aller déjeuner au château de la reine Blanche (18). Aurélie, en amazone (19)
avec ses cheveux blonds flottants, traversait la forêt comme une reine (20) d'autrefois,
et les paysans s'arrêtaient éblouis. − Madame de F... était la seule qu'ils
eussent vue si imposante et si gracieuse dans ses saluts (21). − Après le
déjeuner, nous descendîmes dans des villages rappelant ceux de la Suisse, où
l'eau de la Nonette fait mouvoir des scieries. Ces aspects chers à mes
souvenirs l'intéressaient sans l'arrêter. J'avais projeté de conduire Aurélie
au château, près d'Orry, sur la même place verte où pour la première fois
j'avais vu Adrienne. − Nulle émotion ne parut en elle. Alors je lui racontai
tout; je lui dis la source (22) de cet amour entrevu dans les nuits, rêvé
plus tard, réalisé en elle. Elle m'écoutait sérieusement et me dit : − Vous
ne m'aimez pas ! Vous attendez que je vous dise : La comédienne est la même
que la religieuse; vous cherchez un drame (23), voilà tout, et le dénouement
vous échappe. Allez, je ne vous crois plus !
|
Mùa hè năm sau, có nhiều chuyến xê dịch về Chantilly. Ban kịch sĩ cùng bọn với Aurélie trình diễn (16) tại đó. Theo lệnh người giám đốc ban
kịch, bọn kịch sĩ lưu lại Chantilly ba hôm. Tôi may mắn đã quen thân với ông giám đốc này từ trước. [...
(27) ...] Ông có cách điệu của nòi,
có “lửa” (28). Tôi theo ban kịch với danh nghĩa lãnh chúa
thi nhân (17); tôi bàn với viên
giám đốc, tôi thuyết phục ông, khuyên ông nên mở nhiều cuộc trình diễn tại Senlis và Dammartin.
Ông ta thì có ý chọn quận Compiègne;
nhưng Aurélie lại biểu đồng tình với tôi. Qua ngày hôm sau trong khi người ta lo đi
điều đình với các nhà chủ cho mướn phòng, với các nhà cầm quyền địa phương,
thì tôi lo thuê ngựa, và chúng tôi lên đường theo con lộ về những hồ nước Commelle để đi ăn điểm tâm tại lâu đài bà chúa Bạch (18). Aurélie, ăn vận theo lối nữ kỵ sĩ (19), với làn tóc óng ả
tung bay, vượt qua rừng trông giống như một nữ chúa (20) thời xưa, và các
nông dân dừng lại nhìn, ngây ngất. Bà bá tước F… là người phụ nữ duy nhất họ
được thấy, đã có cái phong độ uy nghiêm và kiều lệ tới mức đó, trong cái điệu
chào (21) phong vận thế kia… Sau bữa ăn, chúng tôi phi ngựa xuống các thôn
làng na ná làng thôn Thụy Sĩ. Tại đây giòng khe Nonette đang xô sóng về cho vận động các xưởng máy cưa. Những
cảnh tượng đó thân yêu xiết bao đối với tôi, nàng cũng lưu ý hân hoan, nhưng
không dừng chân nán lại. Tôi đã định dẫn Aurélie vào viếng cung điện, gần hạt Orry, ngay trên nội cỏ xanh mà xưa kia tôi đã được ngắm
nhìn Adrienne lần thứ nhất. Nàng chẳng có vẻ chi là kích động cả. Thế rồi, tôi kể lại
hết cho nàng nghe, tôi nói cho nàng biết cội nguồn (22) của mối tình tôi,
thoáng nhìn một lần đầu tiên trong đêm tối, chiêm bao tơ tưởng mãi về sau, cuối
cùng cũng được thành tựu nơi nàng đó ạ. Nàng chăm chú lắng nghe và bảo: “Anh
không yêu tôi! Anh chờ nghe tôi nói: “Cô đào hát và nàng tu nữ cũng là một”;
anh đi tìm một bi kịch (23) bơ vơ, thật là như vậy, chỉ có thế thôi, nhưng
xen kết thúc, anh không thể nắm được. Nó bay bổng mất rồi. Thôi, tôi không
còn tin anh nữa.”
|
Cette parole fut un éclair. Ces enthousiasmes
bizarres que j'avais ressentis si longtemps, ces rêves, ces pleurs, ces
désespoirs et ces tendresses... ce n'était donc pas l'amour ? Mais où donc
est-il ?
Aurélie joua le soir à Senlis. Je crus m'apercevoir
qu'elle avait un faible (24) pour le régisseur, − le jeune premier ridé. Cet
homme était d'un caractère excellent et lui avait rendu des services.
Aurélie m'a dit un jour : − Celui qui m'aime, le
voilà !
|
Lời nói đó là một tia chớp lóe. Những phấn kích dị thường tôi cảm thụ từ
bao lâu, những mộng tưởng ước mơ kia, những giòng lệ kia, những niềm tuyệt vọng
và âu yếm kia… vậy là không phải tình yêu chăng? Thế thì tình yêu là cái gì?
Tình yêu ở tại đâu?
Đêm đó, Aurélie trình diễn tại Senlis. Tôi tưởng nhận thấy nàng có niềm thiên ái (24) đối với viên giám đốc kịch trường. [... (29) ...] Ông ta tính tình thật tốt và đã giúp đỡ nàng nhiều. Một ngày kia Aurélie nói với tôi: “Kẻ yêu tôi, chính là ông ấy.” |
Friday, December 11, 2015
Chú thích: chương XII. − Le père Dodu / Cha Dodu
(12) những chiếc xe bò hai bánh: nguyên văn tiếng Pháp "coucous". Theo Pháp Việt tự điển của Đào Duy Anh, "coucou" có nhiều nghĩa: 1. Chim tu hú. 2. Đồng hồ có con chim cứ đến giờ thì gáy. 3. Một thứ xe xưa có hai bánh. 4. Máy xe lửa dùng ở ga để dồn toa. Trong truyện "Sylvie" ở đây, "coucous" dịch theo nghĩa thứ hai hợp cảnh hơn. Trên Internet (*), có bản tiếng Anh dịch "coucous" là "cuckoo clocks". Xem thêm "coucou" (9): chương III. − Résolution / Quyết định.
(*) Nineteenth-Century French Short Stories (Dual-Language).
(15) du lãm: (Hán 遊覽) (se) promener.
XII. − Le père Dodu / Cha Dodu
XII. − Le père Dodu |
XII. Cha Dodu
|
J'allais
répondre, j'allais tomber à ses pieds, j'allais offrir la maison de mon
oncle, qu'il m'était possible encore de racheter, car nous étions plusieurs
héritiers (1), et cette petite propriété était restée indivise (2); mais en
ce moment nous arrivions à Loisy. On nous attendait pour souper (3). La soupe
(4) à l'oignon répandait au loin son parfum patriarcal (5). Il y avait des
voisins invités pour ce lendemain de fête. Je reconnus tout de suite un vieux
bûcheron (6), le père Dodu, qui racontait jadis aux veillées des histoires
(7) si comiques ou si terribles. Tour à tour berger (8), messager (9),
pêcheur (10), braconnier (11) même, le père Dodu fabriquait à ses moments
perdus des coucous (12) et des tournebroches (13). Pendant longtemps il
s'était consacré à promener (15) les Anglais (14) dans Ermenonville, en les
conduisant aux lieux de méditation (17) de Rousseau (16) et en leur racontant
ses derniers moments. C'était lui qui avait été le petit garçon que le
philosophe (18) employait à classer ses herbes (19), et à qui il donna
l'ordre de cueillir les ciguës (20) dont il exprima le suc (21) dans sa tasse
de café au lait (22). L'aubergiste de la
Croix d'Or lui contestait ce détail; de là des haines prolongées. On avait longtemps
reproché au père Dodu la possession de quelques secrets bien innocents, comme
de guérir les vaches avec un verset (23) dit à rebours et le signe de croix
(24) figuré du pied gauche, mais il avait de bonne heure renoncé à ces
superstitions (25), − grâce au souvenir, disait-il, des conversations de
Jean-Jacques (26).
|
Tôi sắp trả lời, tôi sắp quỳ xuống bên chân nàng, tôi sắp xin đem dâng tặng
nàng ngôi nhà cậu tôi, ngôi nhà tôi có thể chuộc lại được, bởi vì bọn thừa kế
(1) chúng tôi đông, và di sản nọ thì còn công hữu (2); nhưng lúc đó chúng tôi
đã về tới Loisy mất rồi. Bữa ăn
tối (3) đang chờ chúng tôi. Nồi “xúp” (4) nấu hành bốc mùi hương mộc mạc (5).
Nhiều bạn láng giềng được mời tới dự tiệc của ngày đưa tiễn buổi hội đi. Tôi
bỗng nhận ra ngay một ông tiều phu (6) già, cha Dodu đó, chính ông ngày xưa đã kể cho chúng tôi nghe giữa
đêm khuya những chuyện cổ tích (7) thật vui hoặc thật khủng khiếp. Hết làm
nghề mục phu (8), đưa tin tức (9), kiểm lâm, ông lại đi chài cá (10), đi săn
trộm thú rừng (11); cha Dodu,
trong những giờ rỗi rảnh cũng đã từng chế tạo những chiếc xe bò hai bánh (12)
và những cái máy quay thịt (13). Trong một thời gian khá lâu, ông chuyên làm
cái việc đưa dẫn người Anh Cát Lợi (14) đi du lãm (15) vùng Ermenonville, ông dắt họ tới nơi xưa kia Rousseau (16)
từng đã tới chiêm niệm (17), suy tưởng (17),
ông kể lại cho họ nghe những ngày cuối cùng của đời triết gia (18) nọ. Chính
ông xưa kia là thằng bé được vị triết gia (18) nuôi để làm cái công việc là sắp
đặt, chia loại các thứ hoa cỏ (19) của mình, chính ông ta là kẻ đã được vị
triết gia sai đi ngắt những nhánh độc (20) cần đem về vắt nước (21) vào ly cà
phê sữa (22). Chủ quán La Croix d’Or không thừa nhận là sự vụ đó có thật; từ đó nảy ra những
oán thù kéo dài dậm duộc. Xưa kia người ta cũng có trách cha Dodu có sở hữu một vài bí ẩn vô tội, như là: chữa lành bệnh
bò cái bằng một vài tiết kinh Thánh (23) đọc lộn ngược, hoặc bằng một câu thơ
đọc theo lối nói lái, hoặc dùng bàn chân trái mà ra dấu thập giá (24); nhưng
từ lâu ông đã thôi không giở những trò quỷ dị (25) đó nữa - ấy là nhớ kỷ niệm,
theo ông nói, nhờ kỷ niệm những buổi trò chuyện của ông Jean-Jacques
Rousseau (26).
|
" Te voilà ! petit Parisien, me dit le père
Dodu. Tu viens pour débaucher (27) nos filles ? − Moi, père Dodu ? − Tu les
emmènes dans les bois pendant que le loup n'y est pas ? − Père Dodu, c'est
vous qui êtes le loup. − Je l'ai été tant que j'ai trouvé des brebis (28); à
présent je ne rencontre plus que des chèvres (29), et qu'elles savent bien se
défendre ! Mais vous autres, vous êtes des malins (30) à Paris. Jean-Jacques
avait bien raison de dire : "L'homme se corrompt (31) dans l'air
empoisonné (32) des villes." − Père Dodu, vous savez trop bien que
l'homme se corrompt partout. "
|
“A! Chú đó ư, chú bé Parisien kẻ chợ! Chú tới đây mục đích là gieo mầm hư hỏng
(27) cho gái miền này? – Tôi ấy à, cha Dodu sao lại nói kỳ cục thế? – Chú dẫn bọn con gái vào rừng
những khi chó sói không lang thang trong đó? – Cha Dodu ôi, chính cha mới
thật là một con sói già đấy nhé. – Ta là sói chừng nào mà ta tìm ra được cừu
gái tơ; (28) nay ta chỉ còn gặp những con dê cái (29) mà thôi, mà dê cái (29)
thì chúng biết lối tự vệ thực là tài. Nhưng còn các chú, các chú là bọn tinh
ranh quỷ quái (30) Paris. Ông Jean-Jacques
Rousseau nói thật là có lý:
“Con người ta hư hỏng tính tình (31) trong bầu không khí nhiễm độc (32) đô thị
phồn hoa.”
"Cha Dodu ơi, cha cũng biết quá rõ là con người ta thì hư hỏng khắp chốn chốn nơi nơi.” |
Le père Dodu se mit à entonner un air à boire (33); on voulut en
vain l'arrêter à un certain couplet scabreux (34) que tout le monde savait
par cœur. Sylvie ne voulut pas chanter, malgré nos prières, disant qu'on ne
chantait plus à table. J'avais remarqué déjà que l'amoureux (35) de la veille
était assis à sa gauche. Il y avait je ne sais quoi dans sa figure ronde,
dans ses cheveux ébouriffés, qui ne m'était pas inconnu. Il se leva et vint
derrière ma chaise en disant : " Tu ne me reconnais donc pas, Parisien ?
" Une bonne femme, qui venait de rentrer au dessert (36), après nous
avoir servis, me dit à l'oreille : " Vous ne reconnaissez pas votre
frère de lait (37)? " Sans cet avertissement, j'allais être ridicule.
" Ah ! c'est toi, grand frisé ! dis-je, c'est toi, le même qui m'a
retiré de l'ieau (38)! " Sylvie riait aux éclats
de cette reconnaissance. " Sans compter, disait ce garçon en
m'embrassant, que tu avais une belle montre (39) en argent, et qu'en revenant
tu étais bien plus inquiet de ta montre que de toi-même, parce qu'elle ne
marchait plus; tu disais : "La bête
est nayée, ça ne fait plus tic tac (40); qu'est-ce que mon oncle
va dire ?..."
− Une bête dans une montre ! dit le père Dodu, voilà ce qu'on
leur fait croire à Paris, aux enfants ! "
|
Cha Dodu bèn cất giọng ngâm một điệu ca nhậu nhẹt (33); người
ta cố sức ngăn ông để ông chịu dừng lại, đừng có dấn tới cái đoạn tục tĩu (34)
trong bài ca, mà ai ai cũng thuộc lòng cả. Nhưng vô ích. Ông ồ ề buông tuồng
hát tuốt hết. Chúng tôi yêu cầu cô Sylvie hát, cô từ chối, bảo rằng: ở bàn ăn, không ai hát
bao giờ. Tôi đã có để ý thấy anh chàng si (35) cô, gặp đêm trước, nay được ngồi
cạnh cô, phía bên trái. Hình như có cái gì đó trong khuôn mặt anh ta, khuôn mặt
tròn vo, có cái gì đó trong đầu tóc rối bơ phờ, coi có vẻ quen quen. Anh ta đứng
lên, tới phía sau chiếc ghế tôi ngồi, nói: “Chú không nhận ra được tôi sao,
chú Parisien?” Một người đàn bà,
vừa trở vào phòng lúc ăn dessert
(36), sau khi đã loay hoay dọn tiệc cho chúng tôi, lại gần ghé vào tai tôi
nói nhỏ: “Cậu không nhận ra người anh em bạn sữa (37) của cậu sao?” Nếu không
có lời nhắc nhở đó, ắt tôi đã ngu ngơ lố bịch mất rồi. “A! Anh đó ư! Chàng cao
tóc quăn! Tôi thốt, chính anh rồi,
chính cái chàng đã kéo tôi ra khỏi cơn niết-nước (38)!” Sylvie cười rộ lên. Đó là không kể, chú ta hôn tôi và nói,
không kể cái sự việc này: thuở đó, chú có một cái đồng hồ trái quít (39) bằng
bạc thật đẹp, và lúc quay về nhà, chú lo lắng cho cái đồng hồ đó nhiều hơn lo
lắng cho thân chú, bởi vì cái đồng hồ đó đã ngừng chạy. Chú nói: “Con thú vật nó chếết đuốốối rồi, nó không kêu tích tắc (40) nữa, cậu sẽ ngầy ngà tôi…”
"Một con thú vật ở trong một cái đồng hồ trái quít!" Cha Dodu nói, "đó đó, người ta bày dạy cho con trẻ như rứa đó ở Paris!" |
Sylvie avait sommeil, je jugeai que j'étais perdu dans son
esprit. Elle remonta à sa chambre, et pendant que je l'embrassais, elle dit :
" A demain, venez nous voir ! "
Le père Dodu était resté à table avec Sylvain et mon frère de
lait; nous causâmes longtemps autour d'un flacon de ratafiat (41)
de Louvres. " Les hommes sont égaux (42), dit le père Dodu entre deux
couplets, je bois avec un pâtissier (43) comme je ferais avec un prince. − Où
est le pâtissier ? dis-je. − Regarde à côté de toi ! un jeune homme qui a
l'ambition de s'établir. "
Mon frère de lait parut embarrassé, J'avais tout compris. −
C'est une fatalité (44) qui m'était réservée d'avoir un frère de lait dans un
pays illustré par Rousseau, − qui voulait supprimer les nourrices (45)! − Le
père Dodu m'apprit qu'il était fort question du mariage de Sylvie avec le grand
frisé, qui voulait aller former un établissement de pâtisserie à
Dammartin. Je n'en demandai pas plus. La voiture de Nanteuil-le-Haudoin me
ramena le lendemain à Paris.
|
Sylvie buồn ngủ, tôi
nhận thấy rằng tôi chẳng còn chiếm giữ chút gì trong trí óc nàng nữa. Tôi bị
mất tích rồi. Nàng lên phòng, và trong lúc tôi hôn nàng, nàng nói: “Ngày mai,
anh ghé lại chơi!”
Cha Dodu ở nán lại bàn tiệc với Sylvain và anh em bạn sữa của tôi; chúng tôi nói chuyện rất lâu, quanh một chai rượu thuốc (41). “Con người ta bình đẳng (42), cha Dodu nói giữa hai khúc ca ngâm, ta uống rượu với một gã làm bánh ngọt (43), cũng hệt như ta ngồi yến ẩm với một ông hoàng, bà chúa tiểu thư. – Gã làm bánh ngọt là ai ở đâu? – Hãy nhìn bên cạnh chú thì thấy! Một thằng làm bánh ngọt lại có tham vọng lập gia đình.” Người anh bạn sữa của tôi có vẻ bối rối. Tôi đã hiểu hết mất rồi. - Thật là một định mệnh (44) tai quái dành cho tôi: có một người anh em bạn sữa tại một vùng lẫy lừng tăm tiếng bởi Rousseau – cái người đã chủ trương bãi bỏ tệ đoan kiếm người mẹ vú (45)! – Cha Dodu nói cho tôi biết rằng sự vụ đã thành vấn đề: đám cưới Sylvie với chàng cao tóc quăn, anh chàng có ý định lập nghiệp, dựng một cửa hàng làm và bán bánh ngọt tại Dammartin. Tôi không còn biết dò hỏi chi hơn. Tôi không phải yêu sách ai cái gì nữa nữa. Qua ngày hôm sau, chiếc xe Nanteuil-le-Haudoin chở tôi về trở lại Paris. |
Thursday, December 10, 2015
Chú thích: chương XI. − Retour / Trở lại
XI. − Retour / Trở lại
XI. − Retour |
XI. Trở lại |
La vue (1) se découvrait au sortir du bois. Nous étions arrivés
au bord des étangs de Châalis. Les galeries (2) du cloître, la chapelle aux
ogives (3) élancées, la tour féodale (4) et le petit château qui abrita les
amours de Henri IV et de Gabrielle se teignaient des rougeurs du soir (5) sur
le vert sombre de la forêt (6). " C'est un paysage de Walter Scott (7),
n'est-ce pas ? disait Sylvie. − Et qui vous a parlé de Walter Scott (7)? lui
dis-je. Vous avez donc bien lu depuis trois ans !... Moi, je tâche d'oublier
les livres, et ce qui me charme, c'est de revoir avec vous cette vieille
abbaye (8), où, tout petits enfants, nous nous cachions dans les ruines (9).
Vous souvenez-vous, Sylvie, de la peur que vous aviez quand le gardien (10)
nous racontait l'histoire des moines rouges ? − Oh ! ne m'en parlez pas. −
Alors chantez-moi la chanson de la belle fille enlevée au jardin de son père,
sous le rosier blanc (11). − On ne chante plus cela. − Seriez-vous devenue
musicienne ? − Un peu. − Sylvie, Sylvie, je suis sûr que vous chantez des
airs d'opéra (12)! − Pourquoi vous plaindre ? − Parce que j'aimais les vieux
airs, et que vous ne saurez plus les chanter. "
Sylvie modula quelques sons d'un grand air d'opéra moderne (13)...
Elle phrasait !
|
Ra khỏi khu rừng, nhãn quang (1) nhìn khung trời mở rộng. Chúng tôi đã tới
bên bờ những hồ nước Châalis, những hồi lang (2) của tu viện, ngôi nhà thờ với những
ngọn tiêm cung (3) dong dỏng cao vút ngọn tháp thời phong kiến (4) và ngôi điện
nho nhỏ đã nung nấu che chở những tình ái u nùng, giữa hoàng đế Henri đệ tứ và nương tử Gabrielle tất cả đều nhuốm màu ráng đỏ hoàng hôn (5) man mác
bao phủ màu lục đậm núi ngàn (6). “Đó là một phong cảnh của Walter
Scott (7), phải không anh?” Sylvie nói. – "Ai đã nói với em về Walter
Scott (7)? Thế thì từ ba năm nay,
em đọc sách nhiều lắm?... Anh, anh gắng quên sách vở, và cái gì thu hút anh,
cái gì anh mơ ước, ấy là chính cùng em nhìn lại ngôi tu viện (8) cũ kỹ này.
Em nhớ đó, chính đấy là chỗ thuở nhỏ chúng mình đã trốn nhau giữa những phế
tích hoang tàn (9). Em nhớ không, Sylvie,
khi người kiểm lâm (10) kể cho chúng ta nghe sự tích những tu sĩ áo đỏ, thì
em đã sợ hãi như thế nào?" – "Ồ! Anh đừng nói chuyện đó với em nữa."
– "Vậy thì em hãy ca cho anh nghe bài ca của cô gái xinh đẹp bị bắt đi
khỏi khu vườn của cha mẹ, dưới cây bạch tường vi (11)." – "Ngày
nay, người ta không ca bài đó nữa." – "Chẳng lẽ em đã trở thành nhạc
sĩ hay sao?" – "Chút ít." – Sylvie, Sylvie,
anh tin chắc rằng em ca những điệu nhạc kịch trường (12)! – "Anh phàn
nàn ư? Có chi để phiền trách?" – "Bởi vì anh yêu chuộng những điệu
hát xưa, và em sẽ không còn hát chúng nữa.”
Sylvie ngân lên vài thanh âm một điệu nhạc lớn kịch trường (13)… Hỡi ôi nàng uốn giọng cao kỳ! |
Nous avions tourné les étangs voisins. Voici la
verte pelouse, entourée de tilleuls (14) et d'ormeaux (15), où nous avons
dansé souvent! J'eus l'amour-propre (16) de définir les vieux murs
carlovingiens et de déchiffrer les armoiries (17) de la maison d'Este. "
Et vous ! comme vous avez lu plus que moi ! dit Sylvie. Vous êtes donc un
savant (18)? "
|
Chúng tôi đã đi vòng những hồ nước bên. Đây đồng cỏ xanh lục, xung quanh
sum sê bồ đề (14) và tiểu du (15), tại đây chúng tôi xưa kia từng đã múa vòng
bao phen! Tôi trở cơn tự ái (16), lên tiếng định nghĩa những hàng chữ trên những
bức tường carlovingiens (thuộc thời đại
các vua chúa Carlovingiens) và giải thích những huy hiệu huy chương (17) nhà họ Este. “Anh! Anh đọc sách hơn em nhiều quá! Thế thì té ra
anh là một nhà thông thái (18)?”
|
J'étais piqué (19) de son ton de reproche. J'avais jusque-là
cherché l'endroit convenable pour renouveler le moment avec l'expansion du
matin; mais que lui dire avec l'accompagnement d'un âne et d'un petit garçon
très éveillé, qui prenait plaisir à se rapprocher toujours pour entendre
parler un Parisien ? Alors j'eus le malheur de raconter l'apparition (20) de
Châalis, restée dans mes souvenirs. Je menai Sylvie dans la salle même du
château où j'avais entendu chanter Adrienne. " Oh ! Que je vous entende
! lui dis-je; que votre voix chérie résonne sous ces voûtes (21) et en chasse
l'esprit (22) qui me tourmente, fût-il divin (23) ou bien fatal (24)! "
Elle répéta les paroles et les chants après moi :
Anges (25), descendez promptement Au
fond du purgatoire (26) !...
|
Tôi hơi tức (19) vì giọng nói pha ý phiền trách của nàng. Trước lúc bấy
giờ, tôi vẫn loay hoay kiếm chừng một chỗ thích hợp để nói trở lại câu chuyện
tâm sự buổi sáng; nhưng biết nói gì với nàng: phía sau, một con lừa lẽo đẽo
hai tai, và một thằng bé tò mò tinh ranh, cứ thích len lỏi mò tới gần bên để
nghe cái lối nói của ông kẻ chợ Parisien. Và thế đó, tôi đã không may mở miệng kể lại cho
nàng nghe sự hiển hiện (20) kỳ ảo tại Châalis, hiện còn nằm trong kỷ niệm của tôi. Tôi dẫn Sylvie
vào chính cái căn phòng bữa trước, tại ngay cái chỗ tôi đã nghe Adrienne hát. “Ồ! Tôi chờ nghe em lên tiếng nói! Tôi bảo. Cầu
sao cho giọng nói của em hãy dội lên dóng dả dưới những vòm (21) cung điện
này, và xua đuổi những thần linh (22) đang day vò đầu óc tôi, dù là thần
thiêng liêng hay ác hại (24)!” Nàng lặp lại những lời và điệu hát:
Hỡi thiên thần (25), hay mau mau giáng hiện Xuống tận cùng tịnh-tội-giới (26) thâm sâu… |
" C'est bien triste ! me dit-elle. − C'est sublime... Je
crois que c'est du Porpora, avec des vers traduits au XVIe siècle. − Je ne
sais pas ", répondit Sylvie.
Nous sommes revenus par la vallée, en suivant le chemin de
Charlepont, que les paysans, peu étymologistes (27) de leur nature,
s'obstinent à appeler Châllepont. Sylvie, fatiguée de l'âne,
s'appuyait sur mon bras. La route était déserte; j'essayai de parler des
choses que j'avais dans le cœur, mais, je ne sais pourquoi, je ne trouvais que
des expressions vulgaires, ou bien tout à coup quelque phrase pompeuse de
roman (28), − que Sylvie pouvait avoir lue. Je m'arrêtais alors avec un goût
tout classique (29), et elle s'étonnait parfois de ces effusions (30)
interrompues. Arrivés aux murs de Saint-S..., il fallait prendre garde à
notre marche. On traverse des prairies (31) humides où serpentent les
ruisseaux. " Qu'est devenue la religieuse ? dis-je tout à coup.
− Ah ! vous êtes terrible avec votre religieuse... Eh bien !...
eh bien ! cela a mal tourné. "
Sylvie ne voulut pas m'en dire un mot de plus.
|
"Thật là buồn bã!" Nàng nói.
"Thật là tuyệt diệu… Anh tưởng đó là của Porpora, với những vần thơ được phiên dịch vào thế kỷ mười sáu." "Em chẳng rõ", Sylvie trả lời. Chúng tôi đã quay trở về băng qua thung lũng, men theo con đường Charlepont mà nông dân thuần phác, chẳng cần biết tới cái lẽ phải trái của từ nguyên (27), cứ gọi trại ra thành Châllepont. Sylvie, ngồi trên lưng lừa đã mỏi, tựa mình vào cánh tay tôi. Con đường vắng vẻ; tôi gắng thử tìm cách nói về những nỗi niềm trong dạ, thật tầm thường, hoặc thình lình lại thốt một tiếng rỗng tuếnh tiểu thuyết (28), mà – Sylvie ắt có lẽ đã có đọc qua rồi. Và thế đó, tôi dừng lại theo phong vận rất cổ điển hào hoa (29), và Sylvie đôi lúc đã tỏ vẻ ngạc nhiên trước những tâm sự phơi bày (30) nửa chừng thoắt dứt. Lúc tới sát những bờ tường Saint-Sulpice, thì phải coi chừng cái điệu bước, cái cách đi. Người ta băng qua những nội cỏ (31) ướt át, có những dòng khe uốn éo quanh co. “Cô tu nữ ra sao?” Tôi thình lình hỏi. "A! Anh thật là kinh khủng với cô nữ tu của anh… Ồ…! Thật là… chuyện cô ta, thật có bề không ổn.” Sylvie không chịu nói thêm lời nào. |
Les femmes
sentent-elles vraiment que telle ou telle parole passe sur les lèvres sans
sortir du cœur ? On ne le croirait pas, à les voir si facilement abusées, à
se rendre compte des choix qu'elles font le plus souvent : il y a des hommes
qui jouent si bien la comédie de l'amour (32)! Je n'ai jamais pu m'y faire,
quoique sachant que certaines acceptent sciemment d'être trompées. D'ailleurs
un amour qui remonte à l'enfance est quelque chose de sacré... Sylvie, que
j'avais vue grandir, était pour moi comme une sœur. Je ne pouvais tenter une
séduction (33)... Une tout autre idée vint traverser mon esprit. − A cette
heure-ci, me dis-je, je serais au théâtre... Qu'est-ce qu'Aurélie (c'était le
nom de l'actrice) doit donc jouer ce soir ? Évidemment le rôle de la
princesse (34) dans le drame nouveau. Oh ! le troisième acte, qu'elle y est
touchante !... Et dans la scène (35) d'amour du second ! avec ce jeune
premier tout ridé...
|
Có thật rằng đàn bà cảm thấy được rất rõ rằng một lời nọ, một lời kia, thốt
ở trên môi, mà không tuôn từ tấc dạ? Không thể nghĩ như vậy được. Cứ xem các
nàng bị phỉnh phờ nhầm lẫn quá dễ dàng. Cứ xem các cô chọn lựa thì rõ: có xiết
bao kẻ đàn ông đóng thật giỏi cái tuồng cua gái, yêu đương (32)! Tôi chẳng
quen nổi với sự đó, mặc dù biết rằng có đôi cô chấp thuận một cách có ý thức
cái việc để cho thiên hạ lừa dối. Không cần là thật hay giả. Cứ nghe bừa cho
xong. Nhưng tôi biết làm sao được. Vả chăng, một mối tình kết giao từ thuở nhỏ,
là một cái gì thiêng liêng… Sylvie, tôi đã thấy nàng từ bé, lớn dần dần, đối với tôi
cũng là một đứa em gái. Tôi không thể mở cuộc quyến rũ (33) dã man… Một ý
nghĩ khác xuyên qua óc tôi. “Giờ này, tôi tự nhủ, ở Paris ắt là ta đương ở rạp hát… Thế thì Aurélie (tên cô đào) chiều nay đóng vai tuồng gì? Hẳn nhiên
là nàng thủ vai công chúa (34) trong vở kịch mới. Ồ! Ở lớp thứ ba, trông nàng
thật là đáng yêu nên cảm kích!... Và trong cái xen (35) yêu đương ở lớp hai!
Với cái anh chàng một, mặt mày nhăn nhíu…
|
" Vous êtes dans vos réflexions ? dit Sylvie,
et elle se mit à chanter :
A Dammartin l'y a trois
belles filles : L'y en a z'une plus belle que le jour...
− Ah ! méchante ! m'écriai-je, vous voyez bien que
vous en savez encore des vieilles chansons.
− Si vous veniez plus souvent ici, j'en
retrouverais, dit-elle, mais il faut songer au solide (36). Vous avez vos
affaires de Paris, j'ai mon travail; ne rentrons pas trop tard: il faut que
demain je sois levée avec le soleil. "
|
"Anh đang cơn say suy ngẫm?” Sylvie nói và mở môi hát:
Tại Dammartin có ba cô gái đẹp:
Riêng có một cô đẹp hơn trời mai sớm…
Riêng một cô kiều diễm hơn sớm mai…
“A! Cô
này dã man thật!” Tôi thốt to, thế mà cô dám nói rằng cô không còn biết hát
những điệu hát xưa!
“Nếu anh năng lui tới đây nhiều hơn một chút, thì ắt em sẽ nhớ ra nhiều điệu nữa nhưng phải lo nghĩ tới cái gì thiết thực (36). Anh có công việc của anh tại Paris, em có công việc của em tại đây. Đừng về trễ quá. Ngày mai em còn phải lo dậy sớm cho kịp bước mặt trời.” |
Subscribe to:
Posts (Atom)

