Wednesday, December 16, 2015

Chú thích: chương X. − Le grand frisé / Chàng cao tóc quăn


(6) hồ đào: (Hán , lat. Juglans) nguyên văn "noyer".
wikipedia.org/wiki/Noyer
gỗ hồ đào - table en noyer (photo Internet)



















Đính chính



Bản điện tử tiếng Việt "do talawas thực hiện" (*) là bản dịch khá phổ biến trên Internet từ nhiều năm qua. Chúng tôi dùng văn bản này làm nguồn cho blog Sylvie * Mùi Hương Xuân Sắc và đã dò theo sách in của nhà xuất bản Phú Vang (Saigon, Việt Nam) sửa chữa một số sai sót như sau.
(*) http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7237&rb=08

Chương
bản điện tử tiếng Việt
"do talawas thực hiện"
blog
Mùi Hương Xuân Sắc
I
ca thi đào hát
ca nhi đào hát
I
đi về xe mộng thổi thâm thể lên trời
đi về xe mộng thổi thân thể lên trời
IV
đã thuộc quyền sử hữu của ngẫu tượng giáo
đã thuộc quyền sở hữu của ngẫu tượng giáo
IV
Tôi may mắn nắm được một vòng hoa thật đẹp, thế là, lần này cô Sylvie, lần nay nguyên vẹn, không còn chia sớt cho ai, nàng ngày nay đã hóa thành kiều lệ hết sức!
Tôi may mắn nắm được một vòng hoa thật đẹp, thế là, lần này cô Sylvie mỉm cười một nụ thật tươi xinh, và cái hôn lần này mới đích thực một cái hôn ngọt ngào hơn cái hôn khi nãy. Và tôi hiểu rằng mình vừa xóa hết kỷ niệm não nùng của một thời cũ kỹ đi qua. Tôi trầm trồ khen ngợi Sylvie, lần này nguyên vẹn, không còn chia sớt cho ai, nàng ngày nay đã hóa thành kiều lệ hết sức!
IV
Những bàn tay ngón tơ mưng duỗi duỗi
Những bàn tay ngón tơ măng duỗi duỗi
V
lịch sử tôn giáo tế xa xưa
lịch sử tôn giáo tế sư xa xưa
V
và mình chỉ vờn mơ màng nghĩ tới duy nhất em Sylvie
và mình chỉ còn mơ màng nghĩ tới duy nhất em Sylvie
V
Dư hương nào trong cuộc mộng đêm qua? A phải rồi.
Dư hương nào trong cuộc mộng đêm qua? Các nàng tụ họp tại đây, tại nông trại này. A phải rồi.
V
những tao ngộ ngùi hương một thuở
những tao ngộ mùi hương một thuở
VI
những chum mao-địa-đàng
những chùm mao-địa-hoàng
VI
Nàng vói tay bắt lấy, kết làm và bảo:
Nàng vói tay bắt lấy, kết làm bó to và bảo:
VI
những chum hoa lộng lẫy
những chùm hoa lộng lẫy
VI
Chỉ còn một quãng đường qua cánh đồng chút xíu, là chúng tôi sẽ tới nơi xóm nhọn hoắt trên dãy đồi tím lục pha lam, giăng giăng trùng điệp, nối liền hai quận MontméliantDammartin.
Chỉ còn một quãng đường qua cánh đồng chút xíu, là chúng tôi sẽ tới nơi xóm Othys. Tháp chuông làng chang chang dựng ngọn nhọn hoắt trên dãy đồi tím lục pha lam, giăng giăng trùng điệp, nối liền hai quận Montméliant và Dammartin.
VI
những chùm iris (vong lưu thảo - cỏ huyện – và diên vỹ)
những chùm iris (vong ưu thảo - cỏ huyên – và diên vỹ)
VI
trong những hội leo đay thời trước vốn chi giấu khuôn mặt mình dưới tấm mặt nạ lổ đổ nhăn nhíu
trong những hội Leo Dây thời trước vốn che giấu khuôn mặt mình dưới tấm mặt nạ lổ đổ nhăn nhíu
VI
Em muốn vận vào mình xem thử có xui không nào, nàng bảo.
Em muốn vận vào mình xem thử có xuôi không nào, nàng bảo.
VII
Chúng tôi bắt lại đường lát đá nơi nhà người lính kiểm lâm, tại chỗ tu viện Châalis xưa.
Chúng tôi bắt lại đường lát đá khởi từ Mont-l'Évêque, và vài phút sau, chúng tôi dừng lại nơi nhà người lính kiểm lâm, tại chỗ tu viện Châalis xưa.
VII
chẳng còn chi để ngợi ca lắm
chẳng còn chi để ngợi ca cho lắm
VII
những vong hồn năm tháng cũ đã trữ tình và giải tỏa nếu du dương trong những cuộc dạt bờ vào đất Pháp
những vong hồn năm tháng cũ đã trữ tình và giải tỏa nếp du dương trong những cuộc dạt bờ vào đất Pháp
VIII
Cuối cùng, tôi nhìn thấy nàng Lise dong dỏng, chị một cô bạn thiết của Sylvie.
Cuối cùng, tôi nhìn thấy nàng Lise dong dỏng chị, một cô bạn thiết của Sylvie.
IX
Tôi có ý muốn khuyây khỏa nỗi lòng
Tôi có ý muốn khuây khỏa nỗi lòng
IX
Tại đó, thuở còn bé con, tôi đã thấy những hội hè, những lễ lạc, với những phần thưởng cấp phát đền bù cho việc học hành, và hạnh kiểm.
Tại đó, thuở còn bé con, tôi đã thấy những hội hè, những lễ lạc, với những gái tơ vận y phục trắng , nô nức đi về đón nhận những phần thưởng cấp phát đền bù cho việc học hành, và hạnh kiểm.
X
giường gỗ hồng đào với diềm hà phụng hoa loan
giường gỗ hồ đào với diềm hà phụng hoa loan
X
chúng em làm việc để cung cấp cho một quận Dammartin
chúng em làm việc để cung cấp cho quận Dammartin
X
"Và anh, anh có nhớ người anh em sữa của anh, người con của bà vú nuôi anh, ngày nọ đã kéo anh lên vì anh chìm lỉm xuống xiết nước?" – "A! Chàng cao tóc quăn! Chính anh ta đã từng nói với anh rằng có thể lội qua… lội qua xiết nước!”
"Và anh, anh có nhớ người anh em sữa của anh, người con của bà vú nuôi anh, ngày nọ đã kéo anh lên vì anh chìm lỉm xuống niết-nước?" – "A! Chàng cao tóc quăn! Chính anh ta đã từng nói với anh rằng có thể lội qua… lội qua niết-nước!”
X
và nàng đã sống bên cạnh cha mẹ như một nàng tiên mẫn tài trí, xảo diệu tay chân
và nàng đã sống bên cạnh cha mẹ như một nàng tiên cần mẫn tài trí, xảo diệu tay chân
XI
Tôi thở cơn tự ái, lên tiếng định nghĩa những hàng chữ trên những bức tường
Tôi trở cơn tự ái, lên tiếng định nghĩa những hàng chữ trên những bức tường
XIV
Như vậy đó là những ảo mộng quyến rũ lung lạc và ê hoặc trong buổi thanh xuân của đời sống.
Như vậy đó là những ảo mộng quyến rũ lung lạc và mê hoặc trong buổi thanh xuân của đời sống.















Tuesday, December 15, 2015

Tài liệu tham khảo


1) Bản điện tử tiếng Việt  chép từ trang web sau đây:
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7237&rb=08
* Có sửa chữa một số sai sót so với sách in của Nhà Xuất Bản Phú Vang (Saigon, Việt Nam).
2) Bản tiếng Pháp chép lại từ trang web dưới đây:
Gérard de NERVAL : Sylvie - Magister
3) Pháp Việt tự điển của Đào Duy Anh (đặc biệt là những tên cây cỏ mà Bùi Giáng chắc chắn đã dựa theo để dịch tập truyện của Gérard de Nerval).
4) Internet















Monday, December 14, 2015

Chú thích: chương III. − Résolution / Quyết định


 (9) đồng hồ: nguyên văn "coucou". Xem thêm:  chú thích (12) chương XII. − Le père Dodu / Cha Dodu.









Sunday, December 13, 2015

II. − Adrienne

 
II. − Adrienne
II. Andrienne
Je regagnai mon lit et je ne pus y trouver le repos. Plongé dans une demi-somnolence, toute ma jeunesse repassait en mes souvenirs. Cet état, où l'esprit résiste encore aux bizarres combinaisons du songe, permet souvent de voir se presser en quelques minutes les tableaux les plus saillants d'une longue période de la vie.
Je me représentais un château du temps de Henri IV avec ses toits pointus couverts d'ardoises (1) et sa face rougeâtre aux encoignures dentelées de pierres jaunies, une grande place verte encadrée d'ormes et de tilleuls (2), dont le soleil couchant perçait le feuillage de ses traits enflammés. Des jeunes filles dansaient en rond sur la pelouse en chantant de vieux airs transmis par leurs mères, et d'un français si naturellement pur, que l'on se sentait bien exister dans ce vieux pays du Valois (3), où, pendant plus de mille ans, a battu le cœur de la France (4).

Tôi về phòng ngủ và thao thức thâm canh. Đắm trong cơn chập chờn nửa mê nửa tỉnh, tôi thiêm thiếp gợi về trong kỷ niệm bầu trời tuổi trẻ thơ ngây. Cái trạng thái gay cấn ôn mê, u nùng lơ lửng, trong đó tinh thần còn gượng chống lại những ảo mộng xô ùa xoay tít phối hợp những hương màu quỷ dị, cái trạng thái đó thường còn cho phép ta nhìn thấy trong phút giây phiêu hốt, những bức tranh kỳ ảo nổi bật trên một nền di chuyển cả một đoạn đời dài đang thêu dệt những gì cho một kiếp hư sinh.

Tôi hình dung một cung điện huy hoàng thời Henri Đệ Tứ, với những chóp mái nhọn lợp bằng đá đen (1), và phía mặt tiền phết vôi hồng đo đỏ, với những góc tường khúc khuỷu, cắt khía răng cưa, màu vàng hoe như cổ lục. Tôi nhìn thấy lại một vùng cỏ xanh rì, xung quanh có xúm xít những cây bồ đề, và du thụ
(2), và dẻ gai, và ánh mặt trời chiều xuyên vào vòm lá xum xuê bằng những tia đỏ óng. Những nàng con gái nhảy múa theo những đường vòng trên nội cỏ cong cong. Các nàng ca ngâm những điệu ca cổ kính do các bà mẹ truyền cho, còn giữ nguyên cái ngôn ngữ thiên nhiên thuần túy, nghe mà tưởng chừng như quả thật mình đang sống thật sự ở trong miền xưa cố quận Valois (3), mà từ hơn ngàn năm trái tim của tổ quốc (4) đã phập phồng đánh nhịp.

J'étais le seul garçon dans cette ronde, où j'avais amené ma compagne toute jeune encore, Sylvie, une petite fille du hameau voisin, si vive et si fraîche, avec ses yeux noirs, son profil régulier et sa peau légèrement hâlée !... Je n'aimais qu'elle, je ne voyais qu'elle, − jusque-là ! A peine avais-je remarqué, dans la ronde où nous dansions, une blonde, grande et belle, qu'on appelait Adrienne. Tout d'un coup, suivant les règles de la danse, Adrienne se trouva placée seule avec moi au milieu du cercle. Nos tailles étaient pareilles. On nous dit de nous embrasser, et la danse et le chœur tournaient plus vivement que jamais. En lui donnant ce baiser, je ne pus m'empêcher de lui presser la main. Les longs anneaux roulés de ses cheveux d'or effleuraient mes joues. De ce moment, un trouble inconnu s'empara de moi. − La belle devait chanter pour avoir le droit de rentrer dans la danse. On s'assit autour d'elle, et aussitôt, d'une voix fraîche et pénétrante, légèrement voilée, comme celle des filles de ce pays brumeux (8), elle chanta une de ces anciennes romances pleines de mélancolie et d'amour, qui racontent toujours les malheurs d'une princesse enfermée dans sa tour par la volonté d'un père qui la punit d'avoir aimé. La mélodie se terminait à chaque stance par ces trilles chevrotants (9) que font valoir si bien les voix jeunes, quand elles imitent par un frisson modulé la voix tremblante des aïeules.

Tôi là thằng con trai duy nhất trong cuộc hát múa vòng. Lúc đi, tôi có dẫn theo một cô bạn xinh tươi tuổi nhỏ, nàng Sylvie, con gái nhà một thôn bản láng giềng, nàng linh hoạt xiết bao, đằm thắm tươi cười, với đôi con mắt đen tròn lóng lánh, trắc diện đều đặn ôn nhu, với làn da sậm sậm!... Tôi chỉ yêu nàng, và chỉ thấy có một mình nàng – kể từ trước cho tới lúc bấy giờ, chợt biến động than ôi… Trước đó, tôi có lưu ý gì mấy đâu, giữa cuộc múa vòng khiêu vũ, tôi còn lưu tâm gì mấy tí, tới một cô nàng tóc hoe óng ả, vóc cao và kiều diễm, mà thiên hạ bốn bên gọi là cô Andrienne. Thì bất thình lình, theo luật tắc cuộc múa vòng, bỗng dưng Adrienne dập dìu xoay thân thể lại, bất ngờ dừng sững lại một mình trong cuộc múa, tại trung tâm, cùng tôi đối diện. Hai đứa vóc dáng như nhau. Người ta bảo chúng tôi hãy ôm nhau mà múa, và từ bỏ cuộc khiêu vũ và bản tình ca hợp xướng cùng thi nhau mà xoay tít dìu dặt vô ngần. Lúc trao nàng cái hôn kỳ ảo, tôi không cưỡng nổi, siết bàn tay nàng một cái. Những mớ tóc vàng xoăn tua tủa lắt lay chạm nhẹ vào má tôi. Từ đó, một niềm man mác dị thường bỗng xâm chiếm tâm linh tôi như càn khôn trở mộng. – Rồi cô gái đẹp phải ca lên để được quyền quay trở vào vòng khiêu vũ. Người ta ngồi xuống xung quanh nàng, và liền sau đó, một giọng vàng tươi mát long lanh ngấm sâu vào vũ trụ, rồi nhòe đục ít nhiều, như sương ngọc mù sa ám linh hồn thục nữ suốt miền xứ xuân thu (8), nàng hát lên một bản tình ca cổ kính đầy rẫy mộng ưu sầu, từ thiên thu kể lại, vẫn câu chuyện vô vàn khốn khổ của một cô nàng công chúa chịu đọa đày xuân sắc trong cấm cung, do ý chí một vua cha trừng phạt nàng đã yêu đương ai mà đắm đuối… Cứ mỗi tiết, bài ca lại kết thúc bằng một cơn dậy réo rắt chiên âm (9), mà giọng gái tơ rất thích hợp để ngân dài và bắt chước cái giọng run rẩy u nùng của những bà tổ nội xưa kia. 

A mesure qu'elle chantait, l'ombre descendait des grands arbres, et le clair de lune naissant tombait sur elle seule, isolée de notre cercle attentif. − Elle se tut, et personne n'osa rompre le silence. La pelouse était couverte de faibles vapeurs condensées, qui déroulaient leurs blancs flocons sur les pointes des herbes. Nous pensions être en paradis. − Je me levai enfin, courant au parterre du château, où se trouvaient de lauriers (5), plantés dans de grands vases de faïence peints en camaïeu (6). Je rapportai deux branches, qui furent tressées en couronne et nouées d'un ruban. Je posai sur la tête d'Adrienne cet ornement, dont les feuilles lustrées éclataient sur ses cheveux blonds aux rayons pâles de la lune. Elle ressemblait à la Béatrice (7) de Dante qui sourit au poète errant sur la lisière des saintes demeures.

Nàng hát đê mê, bóng chiều sa thấp, phủ một vùng đầu ngọn cỏ lá cây. Bóng trăng êm đềm bắt đầu gieo ánh xuống rơi khắp thân thể nàng riêng biệt, đứng cách với toàn thể chúng tôi đang chăm chú ở xung quanh. – Nàng chợt nhuốm hơi mù nhẹ nhẹ, sương trắng đượm trên đầu cỏ lục đăm chiêu. Chúng tôi tưởng mình đang ở non nước thiên đường ngồi mơ màng bên ngõ hạnh, nhìn ngàn đào nghiêng bóng giòng xanh. – Sau cùng, tôi đứng lên, chạy bay tới bồn hoa cung điện, có những cành nguyệt quế (5) trồng trong những chậu sành đồ sộ có những hình chạm nổi loan phụng camaïeu (6). Tôi mang trở về hai nhánh xum xuê, tết thành một vòng hoa, kết lại bằng một dải băng trinh bạch. Tôi đề huề nâng lên, và đặt vòng hoa băng tuyết xuống trên đầu trang nương tử trong một phút thiên thu. Dưới ánh mờ vừng nguyệt, những chiếc lá lấp lánh ngời trên làn tóc phiêu du. Hỡi ôi! {Trăng nhớ tầm dương, là nhớ người. Em là Béatrice (7) của tôi thôi. Miệng cười má lúm đồng tiền nhỏ. Em trút mơ màng non nước ôi.}

Adrienne se leva. Développant sa taille élancée, elle nous fit un salut gracieux, et rentra en courant dans le château. − C'était, nous dit-on, la petite-fille de l'un des descendants d'une famille alliée aux anciens rois de France; le sang des Valois coulait dans ses veines. Pour ce jour de fête, on lui avait permis de se mêler à nos jeux; nous ne devions plus la revoir, car le lendemain elle repartit pour un couvent où elle était pensionnaire.


Andrienne đứng lên. Vươn duỗi tấm hình hài dong dỏng rộng, em nghiêng mình chào nhẹ nhẹ, rồi vùng chạy mất về điện ngọc lãnh cung. {Anh nhìn suốt xứ sau lưng. Thiên thu rụng bóng vô chừng thời gian. Ngậm ngùi gió nội hoang mang. Theo nồng hơi thở miệng vàng đã xa. Cành Nam ước nguyện chan hòa. Sim ngàn sổ lá đêm ngà tử sinh. Gió sương từ tạ biên đình. Bóng sa hồ khép chặt tình mông lung. Rêu tần ngần tuyết in phong. Sóng phơi trường mộng từ trong dậy nguồn. Rập rờn đầu liễu xanh buông. Mùa trăng nước đẩy xô buồn đi qua. Trang hồng kim hải ra hoa. Trổ bông mùa phượng tên là Andrienne. Anh về đuổi mộng cuồng điên. Mùa thu quốc sắc, ưu phiền ngập trang. Mai sau thiên hạ bảo rằng. Người con gái ấy chất hằng trâm anh.} – C'était, nous dit-on, la petite-fille de l'un des descendants d'une famille alliée aux anciens rois de France; le sang des Valois coulait dans ses veines. Pour ce jour de fête, on lui avait permis de se mêler à nos jeux; nous ne devions plus la revoir, car le lendemain elle repartit pour un couvent où elle était pensionnaire. Người con gái ấy, thiên hạ bảo: vốn là cháu nhỏ một gia đình thông gia với những vì vua chúa xưa kia. Giòng máu họ Valois chảy ở trong mạch máu đen của nàng. Nhân ngày Hội Đố Lá đặc biệt này, cha mẹ nàng cho phép nàng dự vào cuộc chơi của chúng ta, chúng ta sẽ không còn được gặp lại nàng nữa đâu vì qua ngày hôm sau, nàng sẽ lên đường vào lại tu viện; nàng là nữ sinh ký túc tại đó. 

Quand je revins près de Sylvie, je m'aperçus qu'elle pleurait. La couronne donnée par mes mains à la belle chanteuse était le sujet de ses larmes. Je lui offris d'en aller cueillir une autre, mais elle dit qu'elle n'y tenait nullement, ne la méritant pas. Je voulus en vain me défendre, elle ne me dit plus un seul mot pendant que je la reconduisais chez ses parents.


Lúc tôi quay trở lại bên Sylvie thì thấy nàng đương khóc. Cái vòng hoa nguyệt quế, tôi tự tay trao cho nương tử ca nhi, chính đó là đầu mối những giọt lệ vàng đương rớt hột bây giờ. Tôi thân ái bảo rằng để tôi chạy đi hái một vòng hoa khác về trao tặng đề huề, nhưng nàng thổn thức bảo rằng nàng có xứng đáng chi đâu. Tôi lóng cóng luống công tìm cách tự bào chữa cho mình, nàng vẫn chẳng nói một lời nào nữa hết, suốt dọc đường tôi dẫn từ bãi cỏ trở về nhà cha mẹ nàng, tôi chẳng được đền đáp một lời nào nữa cả.


Rappelé moi-même à Paris pour y reprendre mes études, j'emportai cette double image d'une amitié tendre tristement rompue, puis d'un amour impossible et vague, source de pensées douloureuses que la philosophie de collège était impuissante à calmer.
La figure d'Adrienne resta seule triomphante, − mirage de la gloire et de la beauté, adoucissant ou partageant les heures des sévères études. Aux vacances de l'année suivante, j'appris que cette belle à peine entrevue était consacrée par sa famille à la vie religieuse.


Rồi trở về lại Paris học tập, tôi mang theo về phố thị cái hình ảnh song đôi của một tình bạn êm đềm bị đứt lìa sầu não, − rồi một mối tình yêu xa hút vô vọng mơ hồ, cội nguồn của bao nhiêu tư tưởng xót xa, mà triết học nhà trường không làm sao cho nguôi được.

La figure d'Adrienne resta seule triomphante, − mirage de la gloire et de la beauté, adoucissant ou partageant les heures des sévères études.

Gương mặt Adrienne ở lại bên lòng ngập bờ lửng kêu trong tiếng gọi, − ảo ảnh của tài hoa phát tiết, huyễn tượng được những gì với những giờ nhọc nhằn kinh sử. Mùa hè năm sau, trở về thôn xóm cũ, tôi được người ta cho biết rằng cô gái kiều diễm nọ, thoáng gặp một lần, từ đó đã bị gia đình đưa đẩy vào con đường tu khắc khổ của tôn giáo. Và mộng hoài, xin vĩnh viễn chia xa. 

<<  >>










Chú thích: chương XIV − Dernier feuillet / Tờ cuối


(15) dịch thiếu một câu: [Cette chambre est un dernier retour vers le bric-à-brac, auquel j'ai depuis longtemps renoncé.]




Saturday, December 12, 2015

XIV − Dernier feuillet / Tờ cuối


 
XIV − Dernier feuillet
XIV. Tờ cuối
Telles sont les chimères qui charment et égarent au matin (1) de la vie. − J'ai essayé de les fixer sans beaucoup d'ordre, mais bien des cœurs me comprendront. Les illusions tombent l'une après l'autre, comme les écorces d'un fruit, et le fruit, c'est l'expérience (2). Sa saveur est amère; elle a pourtant quelque chose d'âcre qui fortifie, − qu'on me pardonne ce style vieilli. Rousseau dit que le spectacle de la nature console de tout. Je cherche parfois à retrouver mes bosquets de Clarens perdus au nord de Paris, dans les brumes. Tout cela est bien changé !

Như vậy đó là những ảo mộng quyến rũ lung lạc và mê hoặc trong buổi thanh xuân (1) của đời sống. Tôi đã thử gắng ghi tạc chúng một cách không thứ tự gì lắm, nhưng nhiều tâm hồn sẽ hiểu tôi. Những ảo tưởng cứ nối đuôi nhau mà rơi rụng, giống như lớp vỏ một trái cây, và trái cây, ấy là duyệt lịch (2). Hương vị nó đắng chua; tuy nhiên, cũng có một chất gì chát chát làm vững mạnh thêm – xin người hãy tha thứ cái lối nói sáo hủ đó của tôi. Rousseau bảo rằng cảnh tượng thiên nhiên tồn lưu an ủi được mọi thứ. Đôi lúc tôi tìm gặp lại những cụm rừng Clarens thân thuộc, lẫn bóng trong sương mờ, ở phía Bắc Paris. Mọi thứ đó đã thay đổi xiết bao! 

Ermenonville ! pays où fleurissait encore l'idylle antique (3), − traduite une seconde fois d'après Gessner (4) ! tu as perdu ta seule étoile, qui chatoyait pour moi d'un double éclat. Tour à tour bleue et rose comme l'astre trompeur d'Aldebaran, c'était Adrienne ou Sylvie, − c'étaient les deux moitiés d'un seul amour. L'une était l'idéal sublime (5), l'autre la douce réalité (6). Que me font maintenant tes ombrages et tes lacs, et même ton désert ? Othys, Montagny, Loisy, pauvres hameaux voisins, Châalis, − que l'on restaure (7), − vous n'avez rien gardé de tout ce passé ! Quelquefois j'ai besoin de revoir ces lieux de solitude et de rêverie. J'y relève tristement en moi-même les traces fugitives d'une époque où le naturel était affecté (8); je souris parfois en lisant sur le flanc des granits (9) certains vers de Roucher, qui m'avaient paru sublimes (10), − ou des maximes (11) de bienfaisance au-dessus d'une fontaine ou d'une grotte (12) consacrée à Pan. Les étangs, creusés à si grands frais, étalent en vain leur eau morte que le cygne dédaigne. Il n'est plus, le temps où les chasses de Condé passaient avec leurs amazones fières (13), où les cors se répondaient de loin, multipliés par les échos !... Pour se rendre à Ermenonville, on ne trouve plus aujourd'hui de route directe. Quelquefois j'y vais par Creil et Senlis, d'autres fois par Dammartin.

Ermenonville! Xứ sở mơ màng còn đủ chỗ cho những luyến ái cổ kính (3), cho những tình duyên thuần khiết đâm bông hồi sinh trong hoài niệm, cứ như lời Hồng Lĩnh bảo Châu Phong (4) – Ermenonville! Ngươi đã đánh mất ngôi sao duy nhất của ngươi rồi, ngôi sao từng đã lấp lánh hai tia ngời trước con mắt của ta. Lúc xanh lúc tía, khi lục khi hồng, như vì tinh tú mê hoặc của Aldebaran ấy là Adrienne, ấy là Sylvie, ấy là hai cánh song song phiêu bồng của một tình yêu duy nhất. Một bên là lý tưởng tuyệt luân (5), một bên là thực tại êm đềm (6). Còn có nghĩa gì nữa với ta ngày nay, Ermenonville! Hỡi những cụm mây, chùm lá, và những mặt hồ và ngay cả sa mạc hoang liêu của ngươi còn nói gì với ta nữa ngày nay? Othys, Montagny, Loisy, những thôn làng lang thang lân cận, Châalis – mà thiên hạ đang trùng tu (7) – các ngươi chẳng còn gìn giữ chút gì của quá khứ kia! Đôi lúc ta cần về viếng lại những nơi chốn nọ của tịch mịch mơ mòng. Ta buồn rầu khêu dậy trong hồn mình những dấu vết thấp thoáng tàn phai của một thời đại mà cái hồn nhiên đã thành kiểu sức (8); đôi lúc ta mỉm cười đọc lại trên mặt đá nham, trên sườn hông hoa cương thạch (9), một vài câu thơ của Roucher xưa kia đã có lần ta thấy là tuyệt diệu (10) hoặc những câu cách ngôn (11) phúc thiện ở phía trên một suối nước, một giòng khe, một thạch động (12) thờ sơn thần Pan. Những mặt hồ luống công phơi trải làn nước chết, con thiên nga không thèm ghé lội chơi. Đã qua rồi, cái thời ông hoàng Condé về đây săn bắn; với đoàn Nương Tử cao kiêu cưỡi ngựa (13), cái thời còi thổi gọi nhau trùng điệp với bao nhiêu tiếng vang dội lại!... Muốn tới Ermenonville, ngày nay không còn đường tới thẳng. Đôi lúc tôi về theo ngả Creil  Senlis, đôi lúc theo ngả Dammartin

A Dammartin, l'on n'arrive jamais que le soir. Je vais coucher alors à l'Image Saint-Jean. On me donne d'ordinaire une chambre assez propre tendue en vieille tapisserie avec un trumeau (14)  au-dessus de la glace. Cette chambre est un dernier retour vers le bric-à-brac, auquel j'ai depuis longtemps renoncé. On y dort chaudement sous l'édredon (16), qui est d'usage dans ce pays. Le matin, quand j'ouvre la fenêtre, encadrée de vigne et de roses (17), je découvre avec ravissement un horizon vert de dix lieues, où les peupliers (18) s'alignent comme des armées (19). Quelques villages s'abritent çà et là sous leurs clochers (20) aigus, construits, comme on dit là, en pointes d'ossements. On distingue d'abord Othys, − puis Eve, puis Ver; on distinguerait Ermenonville à travers le bois, s'il avait un clocher, − mais dans ce lieu philosophique (21) on a bien négligé l'église. Après avoir rempli mes poumons de l'air si pur qu'on respire sur ces plateaux (22), je descends gaiement et je vais faire un tour chez le pâtissier (23). " Te voilà, grand frisé ! − Te voilà, petit Parisien ! ". Nous nous donnons les coups de poing amicaux de l'enfance, puis je gravis un certain escalier où les joyeux cris de deux enfants accueillent ma venue. Le sourire athénien de Sylvie illumine ses traits charmés. Je me dis : " Là était le bonheur peut-être; cependant..."

Tới Dammartin, bao giờ cũng vào lúc chiều tối. Tôi mướn phòng ngủ tại khách sạn Image Saint-Jean. Thường thường người ta cho tôi mướn một căn phòng sạch sẽ, giấy cũ dán tường, một tấm họa (14) treo trên chiếc gương soi. [... (15) ...]  Ngủ ấm áp dưới tấm nhung mao (16), bốc mùi chim nhạn biển. Đó là loại mền thân thuộc của xứ này. Sáng hôm sau, mở cửa sổ nhìn ra, cửa sổ lòa xòa những nhành nho với tường vi (17) thắm đóng khung, tôi đê mê nhìn một chân trời màu lục phơi trải suốt mười dặm gió dài, với những hàng bạch dương (18) đứng trang nghiêm như những đoàn binh dàn trận (19). Vài thôn xóm rải rác đây đó nép mình bên những tháp chuông nhọn hoắt. Ta nhìn thấy thôn Othys trước tiên, rồi thôn Eve, thôn Ver, còn thôn Ermenonville? Nếu Ermenonville có một tháp chuông (20), ắt ta sẽ nhận ra được ở bên kia khu rừng, nhưng tại chốn tư tưởng triết học  (21) nọ, người ta lơ đễnh bỏ quên nhà thờ. Sau khi hít vào phổi đầy đủ khí mát thuần khiết vo ve trên cao nguyên (22) gió hây hây bình minh, tôi vui vẻ xuống làng thôn thăm chàng bán bánh ngọt (23). “Coi tề! Chào chú bé bỏng Parisien!” Chúng tôi đấm thoi nhau đôi cái chịu chơi theo thói bé rồi tôi leo lên một chiếc cầu thang lai rai. Tiếng kêu mừng rỡ của hai đứa bé con bé bỏng bé chị bé em, ríu rít đón tôi. Nụ cười gái Athénienne của Sylvie làm rạng rỡ khuôn mặt kiều lệ. “Lời đâu kiều diễm…” Lòng chàng không nguôi, chàng tôi tự bảo mình tôi: “Kia là hạnh phúc, có lẽ; tuy nhiên…” 

Je l'appelle quelquefois Lolotte (24), et elle me trouve un peu de ressemblance avec Werther (25), moins les pistolets, qui ne sont plus de mode. Pendant que le grand frisé s'occupe du déjeuner, nous allons promener les enfants dans les allées de tilleuls (26) qui ceignent les débris des vieilles tours de brique du château. Tandis que ces petits s'exercent, au tir des compagnons de l'arc, à ficher dans la paille les flèches paternelles, nous lisons quelques poésies ou quelques pages de ces livres si courts qu'on ne fait plus guère.

Đôi lúc tôi gọi nàng bằng tên Lolotte (24), và nàng thấy tôi có hơi giống Werther (25). Trong khi bác tóc quăn cao ráo lo dọn bữa ăn chúng tôi dẫn mấy bé con đi dạo rừng, đi dạo rú, đi dạo dưới bóng cây bồ đề (26) còn đứng đó kiên gan thu góp nhưng mảnh tàn rơi của gạch vụn lãnh cung. Trong lúc các bé con nô giỡn tập tành bắn cung rơm, cung rạ vào cỏ mọc rạ rơm, với những mũi tên cành nhánh của cha mẹ làm cho, thì chúng tôi đọc vài bài thơ, hoặc vài trang sách mùa thu, mà ngày nay chẳng ai viết nữa. 

J'oubliais de dire que le jour où la troupe dont faisait partie Aurélie a donné une représentation à Dammartin, j'ai conduit Sylvie au spectacle, et je lui ai demandé si elle ne trouvait pas que l'actrice ressemblait à une personne qu'elle avait connue déjà. " A qui donc ? − Vous souvenez-vous d'Adrienne ? "
Elle partit d'un grand éclat de rire en disant : " Quelle idée ! " Puis, comme se le reprochant, elle reprit en soupirant : " Pauvre Adrienne ! Elle est morte au couvent de Saint-S..., vers 1832. "

Tôi quên nói rằng cái ban kịch cô Aurélie trình diễn một bận tại Dammartin, tôi có dẫn Sylvie đi xem, và tôi có hỏi em có nhận thấy rằng cô đào nọ rất giống một người phụ nữ mà em từng có biết một lần. “Giống ai vậy? – Em còn nhớ chứ, cô Adrienne?”

Nàng cười rộ một tiếng thật to: “Coi tề!” Rồi dường như tự trách mình chi đó, nàng ngậm ngùi buông tiếng thở dài: “Tội quá! Adrienne. Cô ấy chết tại tu viện Saint-Sulpice, vào năm 1832.”