VII. − Châalis
|
VII. Châalis
|
Il est quatre
heures du matin; la route plonge dans un pli de terrain; elle remonte. La
voiture va passer à Orry, puis à La Chapelle. A gauche, il y a une route qui
longe le bois d'Hallate. C'est par là qu'un soir le frère de Sylvie m'a
conduit dans sa carriole à une solennité (25) du pays. C'était, je crois, le soir
de la Saint-Barthélemy. A travers les bois, par des routes peu frayées, son
petit cheval volait comme au sabbat (1). Nous rattrapâmes le pavé (26) à
Mont-l'Évêque, et quelques minutes plus tard nous nous arrêtions à la maison
du garde (2), à l'ancienne abbaye de Châalis. − Châalis, encore un souvenir !
|
Bốn giờ sáng; con đường chìm trong một nếp đất trồi sụt xuống lên; con đường
ngoi trở lên trở lại. Chiếc xe sắp đi ngang qua vùng Orry, rồi La Chapelle. Phía bên trái, có một đường chạy dọc theo khu rừng Hallate. Chính đó là chỗ một đêm kia người anh của Sylvie đã đánh chiếc xe ngựa đưa tôi đi dự một buổi lễ uy nghi (25).
Ấy là vào đêm ngày lễ Saint-Barthélemy.
Xuyên qua những khu rừng, bằng những con đường vắng vẻ, ít dội gót chân người,
con ngựa bé của anh phi như bay, giống như trong dạ hội ma thuật (1). Chúng tôi
bắt lại đường lát đá (26) khởi từ Mont-l'Évêque, và vài phút sau, chúng tôi dừng lại
nơi nhà người lính kiểm lâm (2), tại chỗ tu viện Châalis xưa. − Châalis,
lại thêm một kỷ niệm nữa đây rồi!
|
Cette vieille retraite (27) des empereurs (28) n'offre
plus à l'admiration que les ruines (29) de son cloître aux arcades (30) byzantines (31),
dont la dernière rangée se découpe encore sur les étangs, − reste oublié des
fondations pieuses comprises parmi ces domaines qu'on appelait autrefois les
métairies (32) de Charlemagne. La religion, dans ce pays isolé du mouvement des
routes et des villes (33), a conservé des traces particulières (34) du long séjour qu'y
ont fait les cardinaux (35) de la maison d'Este à l'époque des Médicis (36): ses
attributs et ses usages ont encore quelque chose de galant et de poétique (37), et
l'on respire un parfum de la Renaissance (3) sous les arcs (38) des chapelles à
fines nervures (39), décorées par les artistes de l'Italie (40). Les figures des saints
et des anges se profilent en rose sur les voûtes peintes d'un bleu tendre,
avec des airs d'allégorie païenne qui font songer aux sentimentalités de
Pétrarque et au mysticisme fabuleux de Francesco Colonna.
|
Nơi dưỡng lão (27) của những vị hoàng đế (28) xa xưa ngày nay chẳng còn chi để ngợi
ca cho lắm; chỉ những phế tích (30) của tu viện mình, với những khung cửa tò vò hình
bán nguyệt (30) byzantin (thể điệu kiến trúc Thổ Nhĩ Kỳ xưa) (31) và dãy cuối cùng còn phơi hình hài
biển dâu trên làn nước hồ đang nhìn tang thương mà cau mặt – chút di lưu còn
sót lại trong quên lãng của ký ức người đời về những công trình kiến thiết
cung hiến cho miền cõi thiêng liêng, nằm ngẩn ngơ trong ngậm ngùi thương nhớ
giữa những vùng đất đai mà ngày xưa thiên hạ gọi là phân-tô-địa (32) của hoàng đế Charlemagne. Trong cái xứ sở cô tịch hoang liêu này, xa biệt hẳn
những bụi đường phồn hoa dấy động (33), thì tôn giáo còn gìn giữ được những vết
tích đặc thù (34) của cuộc cư lưu đằng đẵng của những vị hồng y giáo chủ (35) dòng Este thuộc triều đại tộc họ Médicis (36): những thói nhà phong vận, những chất hằng trâm anh của thiêng
liêng bờ cõi, còn giữ được chút gì cốt cách hào hoa, còn có pha chút gì của
phong thái thơ mộng, và con người tao nhã đi về thương yêu hồi tưởng (37), còn thở
được chút hương lừng man mác buổi Phục Hưng (3) dưới những vòm hình cung bán
nguyệt (38) của những ngôi nhà thờ nho nhỏ, khía cạnh gieo hồn, đường gân (39) heo hút
được trang hoàng bởi bàn tay tài tử của những nghệ sĩ u nùng từ Ý Đại Lợi (40) ghé
chơi. Uy nghiêm khuôn mặt tuyệt vời, Thiên Thần, Hiền Thánh trang đời thiên
thu. Về đây gọi nước non mù. Dàn xuân sắc dải hoang vu hồng vàng. Pha mờ dấu
biếc xuê xoang. Vong hồn ngẫu tượng ngụ trong tính tình. Sôi trào dòng mộng hiển
linh. Tình Pétrarque với u tình Colonna. Hoang
đường thần bí dư ba. Còn nghe nức nở chan hòa đâu đây… (Les
figures des saints et des anges se profilent en rose sur les voûtes peintes
d'un bleu tendre, avec des airs d'allégorie païenne qui font songer aux
sentimentalités de Pétrarque et au mysticisme fabuleux de Francesco Colonna).
|
Nous étions des
intrus (4), le frère de Sylvie et moi, dans la fête particulière qui avait
lieu cette nuit-là. Une personne de très illustre naissance (5), qui
possédait alors ce domaine, avait eu l'idée d'inviter quelques familles du
pays à une sorte de représentation allégorique (6) où devaient figurer
quelques pensionnaires (41) d'un couvent voisin. Ce n'était pas une réminiscence
(7) des tragédies de Saint-Cyr, cela remontait aux premiers essais lyriques
importés en France du temps des Valois (42). Ce que je vis jouer était comme un
mystère des anciens temps (8). Les costumes, composés de longues robes,
n'étaient variés que par les couleurs de l'azur (9), de l'hyacinthe (10) ou
de l'aurore (11) (12). La scène se passait entre les anges, sur les débris du
monde détruit (13). Chaque voix chantait une des splendeurs de ce globe
éteint (14), et l'ange de la mort (15) définissait les causes de sa destruction.
Un esprit montait de l'abîme (16), tenant en main l'épée flamboyante (17), et
convoquait les autres à venir admirer la gloire du Christ vainqueur des
enfers (18). Cet esprit, c'était Adrienne transfigurée par son costume, comme
elle l'était déjà par sa
vocation. Le nimbe de carton (43) doré qui ceignait sa tête angélique nous
paraissait bien naturellement un cercle de lumière; sa voix avait gagné en
force et en étendue, et les fioritures infinies du chant italien brodaient de
leurs gazouillements d'oiseau les phrases sévères d'un récitatif pompeux
(19).
|
Chúng tôi là những kẻ lai rai phiêu hốt (4), người anh của Sylvie và
chúng tôi có phận sự gì, lấy tư cách gì mà vào dự hội riêng biệt sử hồng được
tổ chức đêm kia? {Thôi thì tạm nói rằng gió thanh xuân xô đẩy, Tấp chúng tôi vào
bờ của hồng xum xuê. Xin chào nhau trong một cơn trở mộng. Rồi mai sau trùng
ngộ sẽ chia lìa.} Một nhân vật chính tông trâm anh đài các (5), vốn bấy giờ
là kẻ sở hữu vùng đất đai này, đã có dự cái cuộc trình diễn tượng trưng huê
hòe ẩn dụ hòa an hồ điệp (6) và trong cuộc nọ có xen vào vài mỹ nữ vốn thuộc
nòi kỳ túc (41) của một tu viện láng giềng trên trận gió thổi qua. Ấy không phải
là một vang bóng mơ hồ (7) những vở kịch đã đi về trong sương bạc Saint-Cyr của thời vua Louis Thập Tứ dìu đặt với bà Maintenon trong từng trận đâm bông của cái buổi thi bá Racine ra chào đời trong lừng vang điệu nhạc. Ấy còn lùi xa
hơn về hút heo quá khứ, tới tận cùng miên bạc bẻ bai rầu rĩ của những vong hồn
năm tháng cũ đã trữ tình và giải tỏa nếp du dương trong những cuộc dạt bờ vào
đất Pháp kể từ thời đại họ Valois (42). Những
gì tôi thấy, những gì tôi nghe, trong cái đêm kỳ ảo nọ, chính là những gì khôn
tả còn truyền vọng lời vàng trong bí mật sử xanh (8). Những y phục gấm hoa,
những áo dài, xiêm ngắn, những hồng quần rất mỏng, những tà áo rất thưa, có
khác nhau chăng nữa, cũng chỉ bằng nơi những màu thanh thiên (9), lục thúy (10),
hoàng sa, yên hà, man mác khánh vân chiều, bàng hoàng hồng sương sớm (11),
tía hoa cà lổ đổ, lồng lộng tử trúc lâm (12). Cảnh tượng diễn ra giữa chư thần
chư thánh, bùi ngùi chư tiên tử, trên tàn rụng mặt biển dâu (13). {Thanh xuân
gọi nước lên cầu. Hồng hoang núi ngủ yên sầu gió khe. Chín mùa đông đổ sau
hè. Bây giờ máu ứa trôi về tràng giang. Mây vừa tía, mộng lang thang. Vết chăn
vẽ sóng chìm ngang lưng đèo…} La scène se
passait entre les anges, sur les débris du monde détruit. Chaque voix
chantait une des splendeurs de ce globe éteint, et l'ange de la mort
définissait les causes de sa destruction… Cảnh tượng diễn ra giữa các thiên
thần, trên những mảnh vụn của cõi đời bị tàn phá (13). Mỗi giọng ngâm, mỗi
hát lên một trong những tráng lệ của doanh hoàn tắt lịm (14), và thiên thần của
tử diệt (15) đang xác định những nguyên cớ của diệt vong. Một vị thần linh
nhô hình hài lên từ đáy thẳm (16), tay cầm một ngọn lửa chói chang (17) và
triệu tập chư tiên hãy tới nhanh mà mừng rỡ hoan nghênh đón tiếp thịnh triều vinh
hiển của Jésus Christ chiến thắng những quỷ ma u ám cõi âm ty (18). Vị thần linh đó, chính thị
là nương tử Adrienne đã
từng có phen đi về trong câu hát, đã tạm chết một đêm rằm trong nước xanh, và
bây giờ đã hồi sinh trong xiêm nghê biến dạng, như đã từng biến thể bởi tiếng
gọi của tài tình tài tử đã ra ngoài phát tiết trận tinh anh. Cái vầng hào quang
làm bằng giấy carton (43) nhuộm
thắm, bao bọc cái vầng trán bao la thanh khiết, chúng tôi nhìn vào và xem đó quả
là một vòng ánh sáng thật sự đang chiếu rọi hào quang một cách thật thiên nhiên;
giọng hát của nàng, kể từ bấy tới nay, đã tăng gia cao điệu lồng lộng viễn
khơi như hà thanh (19)
một thuở, và những rung vang hoa hòe điểm xuyết còn rún rẩy suốt cõi bờ của bầu
trời Ý Đại Lợi trong vi vút trường phong với những ca xoang đạm tiên (19)
nàng ấy vốn xưa là nổi danh tài sắc chan hòa chiêm bao. Biển dâu sực tỉnh yêu
đào. Xuân phong tiếu bộ ai nào gọi ai (19).
|
En me retraçant
ces détails, j'en suis à me demander s'ils sont réels, ou bien si je les ai
rêvés. Le frère de Sylvie était un peu gris ce soir-là. Nous nous étions
arrêtés quelques instants dans la maison du garde (20), − où, ce qui m'a
frappé beaucoup, il y avait un cygne (44) éployé sur la porte, puis au dedans de
hautes armoires en noyer (21) sculpté, une horloge dans sa gaine, et des trophées
d'arcs et de flèches d'honneur au-dessus d'une carte de tir rouge et verte.
Un nain bizarre, coiffé d'un bonnet chinois (22), tenant d'une main une
bouteille et de l'autre une bague, semblait inviter les tireurs à viser
juste. Ce nain, je le crois bien, était en tôle (23) découpée. Mais
l'apparition d'Adrienne est-elle aussi vraie que ces détails et que
l'existence incontestable de l'abbaye de Châalis ? Pourtant c'est bien le
fils du garde qui nous avait introduits dans la salle où avait lieu la représentation;
nous étions près de la porte, derrière une nombreuse compagnie assise et
gravement émue. C'était le jour de la Saint-Barthélemy, − singulièrement lié
au souvenir des Médicis, dont les armes accolées à celles de la maison d'Este
décoraient ces vieilles murailles... Ce souvenir est une obsession (24)
peut-être ! − Heureusement voici la voiture qui s'arrête sur la route du
Plessis; j'échappe au monde des rêveries, et je n'ai plus qu'un quart d'heure
de marche pour gagner Loisy par des routes bien peu frayées (45).
|
En me retraçant ces détails, j'en suis à me
demander s'ils sont réels, ou bien si je les ai rêvés. Ghi lại những chi
tiết này, tôi chợt dừng tay tư lự, tự hỏi mình: chẳng biết chúng thật là có
thật, hay lại là do mình huyễn mộng mơ ra. Người anh của Sylvie đêm đó có ngà ngà say một chút. Chúng tôi đã dừng lại
nơi nhà người giám thị sơn lâm (20) − tại đó, có một sự xui tôi vô cùng kinh ngạc:
một con thiên nga (44) vi vu giang rộng cánh bên khung cửa hẹp ngậm ngùi, còn phía
bên trong, thì có những chiếc tủ cao bằng gỗ hạnh đào (21) lóng lánh những
hình trạm trổ thật long lanh, một cái đồng hồ horloge chễm chệ trong
vỏ gỗ-đào-hoa tâm, và những giáp binh, những ngọc trụ có treo đao kiếm, cung tên,
ở phía trên một tấm thẻ xạ thuật đỏ xanh sặc sỡ. Một người lùn kỳ dị, đầu đội
nón ba tàu (22), một tay cầm một cái bình, tay kia cầm chiếc nhẫn, như dường đang
mời mọc các xạ thủ hãy nhắm cho trúng đích. Người lùn nọ hình như là làm bằng
những mảnh tôn (23) cắt ra ghép lại. Những sự hiển hiện kỳ ảo tuyệt thế tài
tình của anh hoa phát tiết tài hoa Adrienne, có thật là có thật như những chi tiết phiêu bồng kia,
như sự hiện hữu đìu hiu không cách gì chối cãi của tu viện Châalis? Nhưng quả thật tuy nhiên là như vậy, chính đứa con
trai của viên giám thị sơn lâm đã dắt chúng tôi vào trong căn phòng làm trường
sở cho cuộc trình diễn nọ ấy mà. Chúng tôi đứng tựa bên khung cửa hẹp, đứng sau
lưng một nhóm người đông đảo đang tề tựu ngồi nhìn và kích động một cách thật
trang nghiêm. Chính là vào cái ngày lễ Saint-Barthélemy, được gắn liền một cách kỳ bí vào với kỷ niệm hoàng
tộc Médicis, mà những binh khí di
lưu còn kết treo liền bên những gươm đao nhà họ Este, hiện đang đề huề trang hoàng xuân thu cho những tường
vách cũ nọ… Kỷ niệm kia có lẽ chỉ là một ám ảnh (24)! May mắn làm sao, này đây
là chiếc xe đang tới, chiếc xe dừng trên con lộ Plessis; tôi thoát ra khỏi vòng cuốn hút của mộng ảo mê ly,
tôi chỉ còn mười lăm phút bộ hành để về tới xóm Loisy trên những con đường cô tịch (45).
|
@ Tác giả: Gérard de Nerval @ Sylvie - Souvenirs du Valois @ Dịch giả: Bùi Giáng @ Mùi Hương Xuân Sắc @ Chú thích: Đặng Thế Kiệt
Search This Blog
Monday, December 7, 2015
VII. − Châalis
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment